Có 3 quốc gia mình có thể gọi là nhà: Việt Nam, Anh, và Mỹ. Mình sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Đến năm 26, tuổi mình có cơ hội học thạc sĩ và làm việc 2 năm ở Anh. Đến năm 29 tuổi, mình sang Mỹ học tiến sĩ, và hiện tại mình đã an cư, lập nghiệp ở Mỹ. Trong bài viết này, mình sẽ chia sẻ nhưng điểm khác biệt thú vị giữa nước Anh và nước Mỹ. Chính trị Mỹ là nước một chính thể cộng hoà tổng thổng (Presidential system). Ở Mỹ không có vua hoặc nữ hoàng, vì vậy Tổng thống đóng hai vai trò vừa là nguyên thủ quốc gia hay là người đứng đầu nhà nước (head of state) và là người đứng đầu chính phủ (head of government). Người dân sẽ trực tiếp bầu tổng thống 4 năm một lần. Mỗi tổng thống có thể được bầu tối đa 2 nhiệm kỳ (8 năm). Vì là người đứng đầu chính phủ, nên Tổng thống là người lãnh đạo của nhánh hành pháp (Executive branch) và chịu trách nhiệm về việc thực thi luật pháp, chỉ huy quân đội và tiến hành quan hệ ngoại giao. Tổng thống bổ nhiệm các thành viên nội các (tương đương ở Việt Nam là các bộ) để giám sát các bộ phận và cơ quan chính phủ khác nhau. Nhánh lập pháp (quốc hội) có hai viện, bao gồm Thượng viện và Hạ viện. Thành viên của Quốc hội được bầu bởi công dân của bang và quận nơi họ sống. Có thể thấy là ở Mỹ người dân sẽ bầu tổng thống và bầu người đại diện trong quốc hội riêng rẽ nhau. Vì thế Hệ thống chính trị của Mỹ được đặc trưng bởi sự phân chia quyền lực nghiêm ngặt giữa các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp, với mỗi nhánh có quyền lực và trách nhiệm riêng biệt. Anh là một chính thể đại nghị (Parliamentary system), như tên gọi của nó, yếu tố cơ bản chính trong hệ thống chính trị của Anh là Nghị viện (Parliament). Ở Anh, vua hoặc nữ hoàng đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia hay là người đứng đầu nhà nước (head of state). Hiện tại King Charles III là nguyên thủ quốc gia. Tuy nhiên vua hoặc nữ hoàng không thật sự có quyền lực. Vai trò của vua hay nữ hoàng chủ yếu mang tính biểu tượng và lễ nghi. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ (head of government). Quyền lực thật sự ở Anh nằm trong quốc hội và thủ tướng, không phải vua hay nữ hoàng. Khác với tổng thổng ở Mỹ, người dân Anh không trực tiếp bầu thủ tướng. Người dân sẽ bầu người đại diện ở Hạ Viên ở Quốc hội. Đảng nào có nhiều ghế nhất ở Hạ Viện sẽ trở thành đảng cầm quyền trong quốc hội Anh. Và thủ tướng Anh là người lãnh đạo của đảng chính trị đang cầm quyền trong Quốc hội. Thủ tướng Anh không có nhiệm kỳ cố định như tổng thống Mỹ. Thủ tướng có thể bị loại bỏ nếu đang cầm quyền mà không còn sự tín nhiệm của các thành viên ngay trong đảng của mình. Khác với Mỹ, hệ thống chính trị của Anh có sự hợp nhất quyền lực giữa nhánh hành pháp và lập pháp, với Thủ tướng và các bộ trưởng khác là thành viên của Quốc hội và tham gia tích cực vào quá trình lập pháp.
Hiện tượng tâm lý bất hoà nhận thức: Khi niềm tin và thực tế xung đột
Mình và Alice tình cờ quen nhau trong một lần đi tình nguyện ở Arizona. Gần đây, cô bạn có tâm sự với mình chuyện tình yêu với một anh chàng tên Bob. Alice và Bob đã hẹn hò được một thời gian dài và họ thực sự yêu thương nhau. Tuy nhiên, gần đây, Alice phát hiện ra rằng Bob thường xuyên giữ bí mật với cô về việc tiêu tiền của mình và thậm chí còn lừa dối cô về một khoản chi tiêu lớn. Ban đầu, Alice cảm thấy bất bình và tức giận, nhưng vì cô yêu Bob và không muốn đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hình ảnh tốt đẹp về anh ta và hành vi thực tế của anh ta, cô bắt đầu tìm ra các lí do để biện hộ cho anh ta. Alice bắt đầu tự thuyết phục rằng Bob có lẽ cần phải giữ bí mật với cô về việc tiêu tiền vì anh ta muốn bảo vệ cô hoặc vì có những áp lực riêng từ công việc hoặc gia đình. Cô cũng bắt đầu tìm thấy các lỗi của mình trong mối quan hệ và tự trách bản thân là cô không đủ tốt để Bob tin tưởng chia sẻ mọi điều với cô. Câu chuyện của Alice khiến mình nghĩ đến một hiện tượng tâm lý thú vị, tồn tại trong mỗi con người chúng ta. Đó là: Bất hoà nhận thức (Cognitive Dissonance).
Bước chuyển từ nghiên cứu sinh Tiến sĩ sang giảng viên đại học: Những thách thức và thay đổi không ngờ
Mới ngày nào, tôi còn đang đắm chìm trong những trang sách và luận án Tiến sĩ. Vậy mà tôi đã tốt nghiệp Tiến sĩ và bắt đầu con đường nghiên cứu và giảng dạy chuyên nghiệp được gần 2 năm. Bước chân vào sự nghiệp này, tôi đã phải đối mặt với những thách thức mới mẻ mà tôi không hề ngờ đến. Hôm nay, khi nhìn lại quãng đường gần 2 năm đã qua, tôi muốn chia sẻ với bạn những thách thức và khác biệt giữa cuộc sống và công việc của một nghiên cứu sinh Tiến sĩ và một giáo sư đại học. Hi vọng bài viết sẽ hữu ích cho những bạn đang làm PhD và những ai muốn theo đuổi một sự nghiệp giảng dạy ở một trường đại học. Sự độc lập Mục tiêu lớn nhất của một chương trình Tiến sĩ (doctoral program) là đào tạo ra những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp độc lập. Khi bước vào năm cuối (năm thứ 5 ở trường Đại học Arizona), tôi rất nóng lòng muốn tốt nghiệp để xây dựng sự nghiệp của riêng mình. Trong quá trình làm tiến sĩ, bản thân tôi cũng là một nghiên cứu sinh có khả năng làm việc độc lập cao. So với nhiều bạn cùng chương trình, tôi có thể tự viết nghiên cứu một mình, tự tìm cơ hội hợp tác, và biết rõ chủ đề nghiên cứu mình muốn theo đuổi ngay từ những ngày đầu làm PhD. Tuy vậy, năm đầu tiên sau khi trở thành giáo sư đại học, nhiều lúc, tôi lại nhớ những tháng ngày ở chương trình Tiến sĩ. Khi đã hoàn toàn độc lập và tự đứng trên đôi chân của mình, đặc biệt là ở giai đoạn đầu, tôi bỗng thấy trân trọng hơn những ngày mình còn có sự định hướng và “phụ thuộc” vào người khác. Chẳng hạn, khi còn là nghiên cứu sinh, tôi luôn có ai đó để xin ý kiến. Tôi có thể email cho giáo sư hướng dẫn và hẹn gặp để hỏi về ý tưởng hoặc lập luận cho một bài nghiên cứu của mình. Tôi có thể gửi bản nháp khảo sát và xin ý kiến của thầy trước khi thu thập số liệu. Khi lăn tăn không biết thiết kế nghiên cứu của mình có lỗ hổng nào không, tôi có thể thảo luận với các giáo sư trong hội đồng hướng dẫn luận án. Khi trở thành nhà nghiên cứu độc lập, bạn sẽ phải tự quyết định mọi thứ, từ chủ đề nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phân tích số liệu, tìm người hợp tác, trả lời nhận xét của những nhà bình duyệt, vân vân. Ngoài ra, bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với những gì bạn viết. Có lần tôi chia sẻ vui vui với thầy hướng dẫn luận án rằng thỉnh thoảng tôi lại nhớ khoảng thời gian làm Tiến sĩ, vì tôi luôn nhận được sự góp ý và chỉ dẫn của thầy. Bây giờ, tôi phải luôn tự đưa ra mọi quyết định và hoàn toàn tự thân vận động (all on my own). Haha. Thầy cười và bảo, “Bất cứ khi nào em cần giúp đỡ, hãy nói cho tôi biết.” Tất nhiên, hiện tại, tôi chỉ tìm đến thầy khi cần những lời khuyên cho những việc lớn như là hướng phát triển lâu dài của sự nghiệp. Sau gần 2 năm thì tôi đã quen và thật sự yêu thích sự độc lập và tự do mà công việc mang lại!
7 Chiến Lược Hiệu Quả Để Nâng Cao Khả Năng Thuyết Trình Trước Công Chúng
Tôi vẫn nhớ như in lần đầu tiên thuyết trình trước lớp đại học cách đây khoảng 14-15 năm. Tôi rất run, nói lí nhí, mồ hô mồ kê nhễ nhại. Tôi không dám nhìn khán giả, mắt chỉ nhìn chằm chằm vào trần lớp học. Bài thuyết trình chỉ kéo dài khoảng 10 phút mà tôi tưởng như dài cả thế kỷ. Tôi đã đạt điểm rất thấp cho bài nói ấy. Vốn là một người nhút nhát nên thuyết trình là một cực hình đối với tôi. Nhưng đó là câu chuyện cách đây hơn 10 năm rồi. Hiện tại, kỹ năng thuyết trình là một điểm mạnh của tôi. Khi còn học thạc sỹ ở Anh, tôi luôn nhận được điểm cao và sự khen ngợi của thầy cô và bạn bè về các bài thuyết trình trước lớp. Sau khi sang Mỹ học Tiến sĩ, kỹ năng thuyết trình cũng giúp tôi tiến xa trong sự nghiệp. Vào năm thứ 2 Tiến sĩ, tôi phải trình bày bài nghiên cứu trước hội đồng giáo sư của khoa. Thật vui, vì bài trình bày được đánh giá là cực kỳ xuất sắc. Kỹ năng nói trước đám đông tốt cũng giúp tôi tìm được việc vào năm cuối của chương trình tiến sĩ. Tuy không phải là người hướng ngoại, nhưng tôi rất thích thuyết trình. Nhiều đồng nghiệp nghĩ rằng tôi sinh ra vốn đã có khả năng nói trước đám đông và dạy học một cách tự nhiên. Nhưng tôi có thể khảng định rằng, để có được khả năng thuyết trình như ngày hôm nay, tôi đã phải cố gắng luyện tập rất nhiều. Tôi không phải là người có khả năng ăn nói, thuyết trình tự nhiên. Thậm chí, tôi từng nghĩ, bản thân không có khả năng ăn nói khéo léo lưu loát như nhiều người. Trong bài viết ngày hôm nay, tôi chia sẻ với bạn cách nâng cao khả năng thuyết trình – presentation skills.
3 bước ngoặt trong suy nghĩ đã thay đổi cuộc đời tôi: Nhận thức về sự đa dạng của thế giới, sự linh hoạt kỳ diệu của bộ não, và thành kiến tiềm thức
Hôm qua, sau khi con gái đi ngủ, tôi và bạn đồng hành cùng xem lại những tấm ảnh cũ chụp trước khi chúng tôi chưa quen nhau. Nhìn những tấm ảnh tốt nghiệp đại học của tôi cách đây hơn 10 năm, bất chợt bạn đồng hành hỏi, “So với 10 năm trước đây, thay đổi lớn nhất trong em là gì?” Câu hỏi ấy đã gợi ý cho tôi ý tưởng viết bài blog tuần này. Hơn 10 năm qua, tôi đã trải qua những thay đổi lớn trong suy nghĩ và nhận thức về cuộc sống. Ba bước ngoặt quan trọng nhất là sự nhận thức về những gam màu xám của cuộc sống, sự linh hoạt kỳ diệu của não bộ, và những thành kiến tiềm thức của bản thân. Chính những đổi thay này đã giúp tôi trở thành tôi của ngày hôm nay và có thể đi được đến đây trong cuộc sống.




